Cách tính gáy catalogue theo số trang và định lượng giấy

Cách tính gáy catalogue chính xác nhất là lấy số tờ ruột nhân với độ dày thực đo của một tờ giấy, sau đó hiệu chỉnh theo quy cách đóng cuốn của xưởng. Vì một tờ có hai mặt tương ứng hai trang, công thức cơ bản là: độ dày gáy = số trang ruột ÷ 2 × độ dày một tờ giấy. Định lượng gsm chỉ cho biết khối lượng giấy trên mỗi mét vuông, không phải độ dày, nên không thể dùng một hệ số chung cho mọi loại giấy.

Tính đúng kích thước gáy giúp phần chữ ở gáy nằm giữa, hai nếp gấp khớp với ruột và bìa không bị hụt hoặc dư sau khi đóng keo. Hướng dẫn dưới đây phù hợp cho catalogue bìa mềm đóng keo gáy; với cuốn đóng ghim giữa, thông thường không thiết kế một mặt gáy phẳng riêng.

Cách tính gáy catalogue theo số trang qua các cuốn có độ dày khác nhau
Các cuốn catalogue đóng keo có độ dày gáy thay đổi theo số tờ ruột và độ dày thực tế của giấy.

Công thức tính gáy catalogue chuẩn

Đặt P là số trang ruột, t là độ dày của một tờ giấy tính bằng milimét và G là kích thước gáy thành phẩm. Công thức sử dụng như sau:

G = (P ÷ 2) × t + Δ

Trong đó, P ÷ 2 là số tờ ruột; t là độ dày thực của một tờ; Δ là phần hiệu chỉnh do keo, mức ép gáy và dung sai gia công. Giá trị Δ không có một con số cố định cho mọi máy và mọi vật liệu. Xưởng in có thể giữ nguyên kích thước khối ruột hoặc cộng một mức nhỏ, thường trong khoảng 0–0,5 mm, sau khi đã đóng mẫu và đo thực tế.

Nếu nhà cung cấp công bố độ dày theo micromét (µm), có thể đổi trực tiếp bằng công thức:

G (mm) = P × t (µm) ÷ 2.000 + Δ

Ví dụ, catalogue có 96 trang ruột, giấy dày 125 µm: 96 × 125 ÷ 2.000 = 6 mm. Đây là kích thước khối ruột ước tính trước khi xưởng xác nhận phần hiệu chỉnh.

Vì sao không thể đổi định lượng giấy sang độ dày bằng một hệ số cố định?

Gsm là số gram của một mét vuông giấy. Hai loại giấy cùng 150 gsm vẫn có thể dày khác nhau do thành phần bột, độ xốp, lớp tráng phủ, độ ẩm và mức cán ép. Giấy Couche thường đặc và mỏng hơn một số loại giấy không tráng cùng định lượng. Vì vậy, bảng quy đổi chỉ nên dùng để dự toán, còn file bìa cuối cùng cần căn theo thông số caliper của đúng lô giấy.

Nếu đang chọn vật liệu, bài catalogue nên dùng giấy gì giúp so sánh giấy ruột và giấy bìa theo nhu cầu sử dụng. Bạn cũng có thể xem đặc tính của giấy Couche, loại giấy được dùng phổ biến khi cần hình ảnh sáng và bề mặt mịn.

So sánh độ dày giấy Couche C100 C120 C150 C200 dùng in catalogue
Định lượng tăng thường làm tập giấy dày hơn, nhưng độ dày chính xác vẫn phụ thuộc dòng giấy và lô sản xuất.

Bảng độ dày giấy tham khảo để ước tính gáy

Bảng dưới đây là khoảng tham khảo thường gặp, không phải thông số thay thế cho giấy mẫu hoặc tài liệu kỹ thuật của nhà cung cấp.

Loại giấy ruột Độ dày tham khảo mỗi tờ Hệ số ước tính nên dùng
Couche 100 gsm 0,075–0,090 mm Khoảng 0,083 mm/tờ
Couche 120 gsm 0,090–0,105 mm Khoảng 0,098 mm/tờ
Couche 150 gsm 0,115–0,135 mm Khoảng 0,125 mm/tờ
Couche 200 gsm 0,155–0,180 mm Khoảng 0,168 mm/tờ
Fort 80 gsm 0,095–0,110 mm Khoảng 0,103 mm/tờ

Chẳng hạn, 64 trang Couche 150 gsm có 32 tờ ruột. Lấy 32 × 0,125 mm được khoảng 4 mm. Nếu đổi sang Couche 100 gsm, cùng số trang chỉ dày khoảng 2,66 mm. Sai khác hơn 1 mm này đủ làm chữ gáy lệch và nếp gấp sai vị trí nếu file bìa được thiết kế quá sớm.

Bảng tính nhanh theo số trang phổ biến

Các số liệu sau dùng hệ số giữa của khoảng tham khảo và chưa cộng Δ. Kết quả được làm tròn đến 0,1 mm để thuận tiện dự toán.

Số trang ruột Couche 100 gsm Couche 120 gsm Couche 150 gsm Couche 200 gsm
48 trang 2,0 mm 2,4 mm 3,0 mm 4,0 mm
64 trang 2,7 mm 3,1 mm 4,0 mm 5,4 mm
96 trang 4,0 mm 4,7 mm 6,0 mm 8,1 mm
128 trang 5,3 mm 6,3 mm 8,0 mm 10,8 mm
160 trang 6,6 mm 7,8 mm 10,0 mm 13,4 mm

Bảng này giúp kiểm tra nhanh tính hợp lý của file, không nên dùng làm kích thước sản xuất cuối cùng. Với gáy quá mỏng, tên catalogue có thể không đủ không gian an toàn để in. Khi đó, nên cân nhắc tăng số trang, đổi giấy hoặc chuyển sang kỹ thuật đóng ghim giữa. Bài catalogue bao nhiêu trang là hợp lý sẽ hỗ trợ quyết định số trang theo lượng nội dung.

Cách đo thực tế để có kết quả đáng tin cậy

Phương pháp tốt nhất là đo cả một chồng giấy thay vì đo một tờ. Một tờ quá mỏng nên sai số của thước có thể lớn hơn chính phần cần đo. Quy trình gồm bốn bước:

  1. Lấy đúng loại giấy, đúng định lượng và nếu có thể là đúng lô sẽ dùng để in.
  2. Đếm 50 hoặc 100 tờ, đặt chồng giấy trên mặt phẳng và không ép quá mạnh.
  3. Dùng thước cặp đo ở ba vị trí, sau đó lấy giá trị trung bình.
  4. Lấy độ dày chồng giấy chia cho số tờ, rồi nhân với P ÷ 2.

Nếu 100 tờ Couche 120 gsm đo được 9,7 mm, độ dày mỗi tờ là 0,097 mm. Catalogue 128 trang có 64 tờ nên gáy ước tính là 64 × 0,097 = 6,208 mm, có thể làm tròn 6,2 mm trước khi xưởng xác nhận.

Đo độ dày gáy catalogue bằng thước cặp trước khi dàn bìa
Đo khối ruột hoặc chồng giấy mẫu bằng thước cặp giúp giảm sai số so với chỉ quy đổi từ gsm.

Ba ví dụ tính gáy catalogue theo cấu hình thực tế

Ví dụ 1: 80 trang ruột Couche 120 gsm

Số tờ ruột là 80 ÷ 2 = 40 tờ. Nếu giấy có caliper 0,098 mm, khối ruột dày 40 × 0,098 = 3,92 mm. Có thể dùng 3,9 mm để dựng bản nháp, sau đó cập nhật con số do xưởng duyệt.

Ví dụ 2: 96 trang ruột Couche 150 gsm

Số tờ ruột là 48 tờ. Với độ dày 0,125 mm/tờ, gáy ước tính là 48 × 0,125 = 6 mm. Kích thước này thường đủ để bố trí một dòng chữ gáy đơn giản, nhưng vẫn phải chừa vùng an toàn ở hai bên nếp gấp.

Ví dụ 3: 128 trang ruột Fort 80 gsm

Số tờ ruột là 64 tờ. Nếu giấy Fort dày 0,103 mm/tờ, kết quả là 64 × 0,103 = 6,592 mm, làm tròn khoảng 6,6 mm. Ví dụ này cho thấy giấy 80 gsm không nhất thiết tạo gáy mỏng hơn nhiều so với giấy tráng phủ 120 gsm.

Tính khổ trải bìa sau khi có kích thước gáy

Với catalogue bìa mềm, khổ trải chưa gồm bleed được tính như sau:

Chiều ngang bìa trải = 2 × chiều ngang thành phẩm + G

Chiều cao bìa trải = chiều cao thành phẩm

Nếu bleed mỗi cạnh là B, kích thước file có bleed là:

Chiều ngang file = 2 × chiều ngang thành phẩm + G + 2B

Chiều cao file = chiều cao thành phẩm + 2B

Ví dụ catalogue A4 dọc thành phẩm 210 × 297 mm, gáy 6 mm và bleed 3 mm: khổ bìa trải chưa bleed là 426 × 297 mm; file gồm bleed là 432 × 303 mm. Thứ tự từ trái sang phải thường là bìa sau, gáy và bìa trước.

Sơ đồ bìa sau gáy bìa trước và nếp gấp catalogue
Bìa trải gồm bìa sau, phần gáy và bìa trước; các nếp gấp cần khớp với mép khối ruột.

Hai đường tạo nếp hỗ trợ bìa mở đẹp thường nằm gần phần gáy, nhưng khoảng cách chính xác tùy quy trình gia công. Không tự cộng phần nếp gấp vào G nếu xưởng chưa yêu cầu. Trước khi xuất PDF, nên làm theo hướng dẫn chuẩn bị file catalogue trước khi gửi nhà in để kiểm tra bleed, hệ màu, độ phân giải và thứ tự trang.

Những lỗi thường làm sai kích thước gáy

  • Dùng số trang chia cho bốn thay vì chia cho hai. Một tờ có hai mặt in, tương ứng hai trang thành phẩm.
  • Tính cả bốn trang bìa vào P dù bìa là một tờ riêng. Công thức khối ruột chỉ dùng số trang ruột.
  • Lấy gsm làm milimét hoặc áp một hệ số trên mạng cho mọi thương hiệu giấy.
  • Đo một tờ bằng thước thông thường, khiến sai số lớn.
  • Chốt bìa trước khi khóa số trang, loại giấy và phương pháp đóng cuốn.
  • Đặt chữ sát nếp gấp hoặc cố đưa chữ vào gáy quá hẹp.
  • Tự cộng độ dày bìa vào chiều rộng gáy mà không theo khuôn bìa của xưởng.

Phương pháp đóng cuốn cũng ảnh hưởng cách dàn bìa. Catalogue đủ dày thường dùng đóng keo gáy để tạo mặt gáy vuông, còn cuốn ít trang có thể phù hợp với ghim giữa hơn. Kỹ thuật viên cần kiểm tra cả độ bám keo, hướng thớ giấy và khả năng mở trang, chứ không chỉ nhìn vào con số độ dày.

Quy trình chốt gáy trước khi gửi in

  1. Khóa nội dung và xác định chính xác số trang ruột.
  2. Chốt loại giấy, định lượng và mã giấy với đơn vị sản xuất.
  3. Lấy caliper từ bảng kỹ thuật hoặc đo chồng giấy mẫu.
  4. Tính G theo công thức, dựng bìa trải và đặt đường guide cho hai mép gáy.
  5. Chừa chữ và chi tiết quan trọng cách nếp gấp một khoảng an toàn theo yêu cầu của xưởng.
  6. Gửi file kiểm tra, nhận lại kích thước gáy đã duyệt rồi mới xuất bản in cuối.

Với đơn hàng yêu cầu độ chính xác cao, nên làm dummy trắng hoặc bản mẫu hoàn thiện. Bản mẫu cho thấy độ nở của ruột, độ ôm của bìa và vị trí chữ gáy trong điều kiện gần nhất với sản phẩm thật.

Câu hỏi thường gặp về tính gáy catalogue

Catalogue 32 trang có làm gáy vuông được không?

Về phép tính, 32 trang Couche 150 gsm chỉ tạo khối ruột khoảng 2 mm. Nhiều dây chuyền đóng keo có ngưỡng gáy tối thiểu cao hơn mức này, vì vậy ghim giữa thường hợp lý hơn. Cần hỏi trực tiếp xưởng về giới hạn máy.

Có cộng độ dày bìa vào công thức không?

Thông thường không cộng độ dày của tờ bìa vào chiều rộng panel gáy theo cách cộng cơ học. Gáy bìa ôm khối ruột và keo; khuôn bìa cuối cùng nên lấy theo thông số của đơn vị gia công.

Chưa có giấy mẫu thì tính bằng cách nào?

Có thể dùng bảng tham khảo để dựng bản nháp, nhưng không nên khóa file. Hãy yêu cầu nhà in cung cấp caliper, đo chồng giấy hoặc gửi khuôn bìa đã tính từ đúng vật liệu.

Đổi định lượng giấy có cần sửa lại bìa không?

Có. Khi loại giấy, định lượng hoặc số trang thay đổi, phải tính lại G và điều chỉnh toàn bộ vị trí bìa sau, gáy, bìa trước cùng các nếp gấp liên quan.

Nhờ xưởng xác nhận gáy trước khi sản xuất

Công thức giúp dự toán và tự kiểm tra file, còn con số sản xuất phải dựa trên đúng giấy và thiết bị gia công. In An Tạo có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Hà Nội, có thể kiểm tra cấu hình, đo giấy mẫu và xác nhận khuôn bìa trước khi in. Khi cần chuyển từ bản tính sang thành phẩm, bạn có thể gửi số trang, kích thước và loại giấy cho xưởng in catalogue để được rà soát thông số.

Messenger
LIÊN HỆ NGAY
×
Ms. Trân
Ms. Ngọc
Ms. Trang
Ms. Quỳnh
Ms. My