Cách tính kích thước túi khi cần đựng nhiều hộp sản phẩm cùng lúc

Muốn tính kích thước túi đựng nhiều hộp, trước tiên hãy chốt cách xếp hộp rồi tính kích thước của cả khối hàng, không cộng kích thước từng hộp một cách máy móc. Công thức ngắn gọn là: kích thước lọt lòng túi = kích thước khối hộp sau khi xếp + khoảng hở thao tác. Với túi giấy, ba số cần xác định theo thứ tự là ngang × cao × hông.

Ví dụ, bốn hộp 12 × 8 × 5 cm được xếp hai hộp theo chiều ngang và hai lớp theo chiều cao sẽ tạo thành khối 24 × 8 × 10 cm. Sau khi cộng khoảng hở, có thể bắt đầu thử mẫu túi khoảng 25 × 13 × 9 cm (ngang × cao × hông). Con số cuối cùng vẫn cần kiểm tra bằng hộp thật vì nắp hộp, giấy gói, vách ngăn và độ cứng của túi đều ảnh hưởng đến độ vừa.

Tính kích thước túi đựng nhiều hộp sản phẩm xếp gọn bên trong
Túi đúng quy cách giữ các hộp gọn, không ép thành túi và vẫn thuận tiện khi lấy sản phẩm.

Ba số đo cần có trước khi tính kích thước túi

Hãy đo hộp thành phẩm bằng thước cứng và ghi theo một quy ước thống nhất. Trong bài này, kích thước hộp được ký hiệu là D × R × C, còn túi là N × H × G:

  • D là chiều dài hộp.
  • R là chiều rộng hộp.
  • C là chiều cao hộp.
  • N là chiều ngang lọt lòng của túi.
  • H là chiều cao lọt lòng của túi.
  • G là chiều hông hoặc đáy lọt lòng của túi.

Nên đo ở ba vị trí và lấy số lớn nhất nếu hộp có nắp chồm, tai gài, nơ, tem nổi hoặc lớp màng co. Kích thước trên file thiết kế chưa chắc bằng kích thước hộp đã gấp dán. Nếu đang hoàn thiện cả bộ bao bì, trang quy cách hộp giấy giúp tham khảo thêm các kiểu hộp và vật liệu trước khi khóa số đo.

Chọn cách xếp hộp trước khi áp dụng công thức

Cùng một số lượng hộp có thể tạo ra nhiều kích thước túi khác nhau. Cách xếp thấp và trải ngang giúp túi ổn định nhưng tốn diện tích mặt đáy. Cách xếp chồng tiết kiệm diện tích đáy nhưng làm túi cao hơn, tải trọng dồn xuống đáy nhiều hơn. Trước khi tính, hãy trả lời ba câu hỏi: mỗi hàng có bao nhiêu hộp, có bao nhiêu hàng theo chiều hông và có bao nhiêu lớp theo chiều cao.

Phương án xếp Ưu điểm Điểm cần kiểm tra
Một hàng ngang Dễ nhìn sản phẩm, túi thấp Túi có thể quá dài, đáy dễ võng
Lưới 2 × 2 Khối hàng cân, ít xô lệch Cần hông túi đủ rộng
Xếp nhiều lớp Giảm ngang và hông túi Hộp dưới phải chịu được tải
Xoay hộp 90 độ Có thể tận dụng khổ túi tốt hơn Kiểm tra mặt trưng bày và nắp hộp
Các cách xếp nhiều hộp vào túi giấy theo hàng lưới và nhiều lớp
So sánh vài cách xếp giúp chọn được tỷ lệ túi cân đối trước khi làm mẫu.

Công thức tính kích thước khối hộp

Giả sử các hộp cùng kích thước và cùng hướng. Gọi a là số hộp theo chiều ngang, b là số hộp theo chiều hông và c là số lớp theo chiều cao. Nếu các hộp đặt sát nhau, kích thước khối cơ bản là:

Ngang khối hộp = a × D

Hông khối hộp = b × R

Cao khối hộp = c × C

Nếu có tấm ngăn dày t đặt giữa các hộp, cần cộng thêm phần ngăn: ngang = a × D + (a − 1) × t; hông = b × R + (b − 1) × t; cao = c × C + (c − 1) × t. Với hộp khác kích thước, hãy dựng một hình chữ nhật bao ngoài toàn bộ cách xếp rồi đo ngang, hông và cao lớn nhất của khối.

Cộng khoảng hở bao nhiêu là hợp lý?

Khoảng hở không có một con số bắt buộc cho mọi đơn hàng. Với hộp giấy vuông vức, bề mặt trơn và không có vật liệu bọc thêm, mức thử ban đầu thường là 5–10 mm cho mỗi chiều ngang và hông của cả khối, tương đương khoảng 2,5–5 mm mỗi phía. Chiều cao nên dư khoảng 20–30 mm để dễ đưa hộp vào, chỉnh miệng túi và tránh sản phẩm chạm vùng xỏ dây.

Cần tăng khoảng hở khi hộp có nơ, giấy lụa, màng co ma sát cao, góc hộp nhô, nhiều loại hộp trộn chung hoặc nhân viên phải đóng gói nhanh. Ngược lại, không nên cộng dư quá nhiều chỉ để “chắc chắn”, vì khối hộp sẽ lắc, túi mất form và phải dùng thêm giấy chèn.

Công thức dự toán túi như sau:

N = ngang khối hộp + độ hở ngang

G = hông khối hộp + độ hở hông

H = cao khối hộp + độ hở miệng túi

Sơ đồ khoảng hở ngang hông và cao khi tính túi đựng bốn hộp
Kích thước lọt lòng phải bao được cả khối hộp và phần hở cần thiết để đóng gói.

Ví dụ tính kích thước túi đựng nhiều hộp

Ví dụ 1: Bốn hộp mỹ phẩm cùng kích thước

Mỗi hộp có kích thước 12 × 8 × 5 cm. Chọn cách xếp hai hộp theo ngang, một hộp theo hông và hai lớp theo cao:

  • Ngang khối: 2 × 12 = 24 cm.
  • Hông khối: 1 × 8 = 8 cm.
  • Cao khối: 2 × 5 = 10 cm.

Cộng 1 cm cho ngang, 1 cm cho hông và 3 cm cho cao, kích thước túi dự toán là 25 × 13 × 9 cm. Khi làm mẫu, có thể thử thêm phương án 25 × 14 × 9 cm nếu hộp có giấy lụa hoặc cần thao tác đóng gói nhanh.

Ví dụ 2: Sáu hộp trà xếp hai lớp

Mỗi hộp 10 × 7 × 4 cm. Xếp ba hộp theo ngang, một hộp theo hông và hai lớp theo cao. Khối hàng là 30 × 7 × 8 cm. Sau khi cộng độ hở 1 × 1 × 3 cm, túi thử mẫu có kích thước 31 × 11 × 8 cm.

Ví dụ 3: Hộp khác kích thước

Một bộ quà gồm hai hộp 15 × 10 × 5 cm và một hộp 10 × 10 × 10 cm. Không thể chỉ cộng ba chiều của từng hộp. Hãy xếp mẫu trên mặt phẳng, chọn hướng giúp mặt đáy gọn nhất, dùng hai thước vuông chặn bốn phía rồi đo hình bao ngoài. Nếu khối thực đo là 25 × 10 × 10 cm, có thể bắt đầu với túi lọt lòng khoảng 26 × 13 × 11 cm và thử lại bằng mẫu thật.

Khi nào nên xoay hộp hoặc đổi số lớp?

Nên so sánh ít nhất hai cách xếp. Lấy ví dụ hộp 18 × 6 × 4 cm, số lượng bốn hộp:

Cách xếp Kích thước khối trước khi cộng hở Đặc điểm
2 ngang × 2 hông × 1 lớp 36 × 12 × 4 cm Túi ngang, thấp, đáy rộng
2 ngang × 1 hông × 2 lớp 36 × 6 × 8 cm Túi mỏng hơn, hộp dưới chịu tải
1 ngang × 2 hông × 2 lớp 18 × 12 × 8 cm Túi gọn ngang nhưng hông lớn

Phương án tốt không chỉ là phương án dùng ít giấy nhất. Tỷ lệ mặt túi còn phải phù hợp bố cục logo, cách khách cầm, khả năng đứng trên quầy và kích thước tờ in. Khi chuyển sang thiết kế mặt túi, có thể tham khảo hướng dẫn cách thiết kế túi giấy để cân đối logo, màu sắc, vật liệu và dây túi.

Đừng nhầm kích thước lọt lòng với kích thước trải

Kết quả tính trong bài là kích thước sử dụng sau khi túi đã hoàn thiện. Đây là dữ liệu khách hàng nên gửi cho xưởng dưới dạng ngang × cao × hông. Kích thước file bế trải sẽ lớn hơn vì còn mặt trước, mặt sau, hai hông, đáy, nẹp miệng và mép dán. Không nên tự lấy kích thước lọt lòng làm kích thước file thiết kế.

Độ dày giấy và kỹ thuật dán cũng tạo ra sai lệch nhỏ giữa số đo lý thuyết và không gian dùng thực tế. Túi giấy cứng, hông hẹp hoặc có lớp cán thường khó mở hết như một hình hộp lý tưởng. Vì vậy, mẫu trắng đúng vật liệu có giá trị hơn việc cộng thêm thật nhiều dung sai trên bản tính.

Kiểm tra tải trọng sau khi chốt kích thước

Kích thước vừa chưa đồng nghĩa túi chịu được tải. Hãy cộng khối lượng của toàn bộ hộp, sản phẩm, vật liệu chèn và quà tặng kèm. Sau đó kiểm tra đồng thời giấy, đáy túi, mép dán, lỗ xỏ dây, miếng gia cố miệng và loại quai.

  • Đáy túi không được võng quá mức khi nhấc lên.
  • Khối hộp nên phủ tương đối đều mặt đáy, tránh dồn tải vào một góc.
  • Quai phải đủ dài để cầm thoải mái nhưng không làm túi lắc mạnh.
  • Với sản phẩm nặng, nên tăng giấy đáy hoặc dùng tấm lót đáy.
  • Nếu xếp nhiều lớp, hộp dưới cần đủ cứng và có tấm ngăn khi cần.
So sánh túi quá chật và túi vừa khi đựng bốn hộp sản phẩm
Túi quá chật dễ phồng và nhăn; mẫu vừa giữ mặt túi phẳng và khối hộp ổn định hơn.

Quy trình chốt quy cách với xưởng in

  1. Gửi kích thước phủ bì và khối lượng của từng hộp thành phẩm.
  2. Gửi số hộp cần đựng trong một túi và ảnh hướng đặt mong muốn.
  3. Cho biết có giấy lụa, vách ngăn, thiệp hoặc quà tặng kèm hay không.
  4. Chọn hai phương án xếp để so sánh tỷ lệ và mức tiêu hao giấy.
  5. Làm mẫu trắng, đặt đủ sản phẩm thật vào túi và nhấc thử nhiều lần.
  6. Sau khi duyệt kích thước mới dàn thiết kế, chốt vật liệu và sản xuất.

Khi thử, hãy đặt túi trên bàn để xem đáy có đứng phẳng, xách lên để xem hông có phồng, rồi lấy từng hộp ra để đánh giá thao tác. Nếu sản phẩm giao qua đơn vị vận chuyển, cần thử thêm rung lắc và va chạm nhẹ trong điều kiện đóng gói thực tế.

Đo mẫu túi giấy và hộp sản phẩm bằng thước trước khi sản xuất
Đo mẫu thật và thử đủ tải giúp phát hiện sai số trước khi sản xuất số lượng lớn.

Những lỗi thường gặp khi chọn túi đựng nhiều hộp

  • Cộng chiều dài của tất cả hộp dù chúng được xếp thành nhiều hàng hoặc nhiều lớp.
  • Đảo thứ tự ngang, cao, hông khi trao đổi với nhà cung cấp.
  • Dùng kích thước trên file hộp thay cho số đo thành phẩm.
  • Không tính giấy lụa, tấm ngăn, nơ, thiệp và sản phẩm tặng kèm.
  • Chọn túi vừa khít hoàn toàn, khiến mép hộp cạ vào hông túi.
  • Cộng hở quá nhiều làm hộp xô lệch và túi mất dáng.
  • Chỉ thử độ vừa mà bỏ qua tổng khối lượng và độ bền quai.
  • Duyệt thiết kế trước khi duyệt mẫu trắng đúng kích thước.

Câu hỏi thường gặp

Nên cộng bao nhiêu centimet cho túi?

Với khối hộp vuông vức, có thể bắt đầu thử ở mức cộng tổng 0,5–1 cm cho ngang, 0,5–1 cm cho hông và 2–3 cm cho cao. Đây là điểm xuất phát để làm mẫu, không phải tiêu chuẩn cố định. Bao bì có nơ, giấy lụa hoặc bề mặt ma sát cao cần khoảng hở lớn hơn.

Có cần tính dây quai vào chiều cao túi không?

Không. Chiều cao túi là chiều cao thân thành phẩm, không gồm phần dây nhô lên. Tuy nhiên, phải chừa khoảng trống giữa đỉnh hộp và vùng xỏ dây để hộp không cấn vào nút dây hoặc miếng gia cố.

Nhiều loại hộp khác nhau thì dùng công thức nào?

Hãy xếp mẫu theo đúng bộ sản phẩm, đo hình hộp chữ nhật nhỏ nhất bao quanh toàn bộ khối rồi cộng độ hở. Một bản phác thảo nhìn từ trên và nhìn ngang sẽ giúp xưởng hiểu đúng vị trí từng hộp.

Có nên chọn kích thước túi có sẵn?

Có thể nếu kích thước có sẵn vừa khối hộp, tải trọng phù hợp và hình thức không bị dư quá nhiều. Với bộ quà tặng cần đồng bộ thương hiệu hoặc số lượng ổn định, làm đúng quy cách thường cho tỷ lệ đẹp và giảm vật liệu chèn.

Gửi sơ đồ xếp hộp để được kiểm tra mẫu

Một yêu cầu báo giá rõ ràng nên gồm kích thước từng hộp, số lượng hộp trong mỗi túi, tổng khối lượng, cách xếp dự kiến, vật liệu chèn và số lượng túi. In An Tạo có trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh và chi nhánh tại Hà Nội, hỗ trợ kiểm tra cách xếp, dựng kích thước và làm mẫu trước khi sản xuất.

Khi cần chuyển bản tính thành bao bì hoàn chỉnh, bạn có thể gửi thông số cho dịch vụ in túi giấy theo yêu cầu của In An Tạo. Việc chốt mẫu bằng đúng hộp thật sẽ giúp túi vừa sản phẩm, giữ form đẹp và hạn chế phải sửa khuôn sau khi đã vào sản xuất.

Messenger
LIÊN HỆ NGAY
×
Ms. Trân
Ms. Ngọc
Ms. Trang
Ms. Quỳnh
Ms. My